| Thương mại điện tử B2B trước hết là quá trình thực hiện việc mua và bán trực tuyến trên mạng giữa các công ty với nhau. Song ngoài mua và bán, thương mại điện tử B2B còn có nhiều tác nghiệp khác giữa các công ty với nhau trong đó có Thương mại điện tử B2B trước hết là quá trình thực hiện việc mua và bán trực tuyến trên mạng giữa các công ty với nhau. Song ngoài mua và bán, thương mại điện tử B2B còn có nhiều tác nghiệp khác giữa các công ty với nhau trong đó có việc quản lý dây chuyền cung ứng, từ nhà cung cấp đến công ty và từ công ty tới khách hàng. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) hoặc XML, chuẩn nào thích hợp với thương mại điện tử B2B? Nếu các công ty vẫn đang thu lợi từ việc đầu tư EDI, không có lý do gì khiến họ từ bỏ nó. Nhưng có lẽ chúng ta thử xem xét xem liệu có còn phương thức trao đổi dữ liệu nào khác có vai trò trong những nỗ lực triển khai hoạt động thương mại B2B trong tương lai hay không? EDI cũng có những hạn chế, đó là một phương thức không linh hoạt và nó có thể gây ra những khó khǎn trong quá trình triển khai. Nhiều công ty nhỏ không bao giờ áp dụng phương thức kinh doanh EDI vì nó quá tốn kém. Hiện nay, ngày càng có nhiều phần mềm thương mại điện tử mới sử dụng Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng (XML), gồm các nguyên tắc khi mô tả dữ liệu trên trang Web, như là một chuẩn cho việc trao đổi dữ liệu. Mặc dù các phần mềm cũng có thể xử lý được các giao dịch EDI, song XML tạo ra sự linh hoạt và đa dạng trong quá trình trao đổi thông tin giữa các công ty và được xây dựng cho các mạng mở. Những dự đoán về việc XML sẽ trở thành một chuẩn vượt trội so với các chuẩn khác trong quá trình trao đổi dữ liệu đang ngày càng nhiều. Tuy nhiên, còn quá sớm để nói rằng chuẩn XML sẽ được ứng dụng nhanh chóng và phổ biến như thế nào. Có một số ít các công ty đã quyết định dù thế nào đi nữa thì cũng nên triển khai chuẩn XML nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng cả hai chuẩn sẽ song song tồn tại trong tương lai, các công ty có thể vẫn sử dụng đồng thời chuẩn EDI ở những nơi nó còn phù hợp và chuẩn XML ở nơi mà EDI có nhiều hạn chế. Tất nhiên, các công ty sẽ phải quyết định xem hệ thống EDI và XML của họ có thể kết nối được với nhau hay không và nếu kết nối được thì kết nối như thế nào. Sự khác biệt giữa B2B và B2C là gì? Có một sự khác biệt hết sức rõ ràng về khách hàng của B2B và B2C: khách hàng là công ty và khách hàng là cá nhân. Song ngoài ra còn có hai sự khác biệt lớn nữa, đó là: * Quá trình đàm phán Trong thương mại điện tử B2B, bán hàng cho một doanh nghiệp khác là bao gồm cả việc đàm phán giá cả, các điều kiện giao hàng và về đặc tính kỹ thuật của sản phẩm, hoàn toàn không đơn giản như việc bán hàng cho người tiêu dùng. Điều này giải thích tại sao các công ty bán lẻ có thể đưa catalog sản phẩm lên mạng trực tuyến dễ dàng hơn so với các công ty triển khai B2B . Đó cũng chính là lý do tại sao những ứng dụng B2B đầu tiên thường chỉ áp dụng cho quá trình mua bán hàng hoá mà khâu mô tả và định giá là tương đối đơn giản. * Tích hợp Hệ thống của người bán lẻ không phải tích hợp với hệ thống của khách hàng. Trong khi phần lớn các công ty bán hàng cho các doanh nghiệp đều phải tiến hành tích hợp hệ thống của mình với hệ thống của doanh nghiệp đối tác vì hệ thống của họ phải có khả năng giao kết với hệ thống của khách hàng mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người. Lợi ích của B2B là gì? Thương mại điện tử B2B có thể giúp các công ty tiết kiệm được chi phí đồng thời tăng được lợi nhuận. Có một số lợi ích mà các công ty có thể đạt được qua việc tiến hành các hoạt động thương mại điện tử B2B như:- Quản lý hệ thống kho hàng hiệu quả hơn - Điều chỉnh theo nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng hơn - Đưa sản phẩm ra thị trường một cách nhanh hơn - Giảm chi phí liên quan tới các công việc giấy tờ - Giảm giá đầu vào của sản phẩm Thế nào là sàn giao dịch B2B? Về cơ bản, sàn giao dịch B2B (còn gọi là thị trường điện tử B2B) là một Website mà ở đó nhiều công ty có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một nền công nghệ chung. Sàn giao dịch B2B tạo ra những dịch vụ cộng thêm như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu cần để các công ty có thể hoàn thành giao dịch. Sàn giao dịch B2B có thể hỗ trợ các hoạt động cộng đồng như cung cấp những thông tin về các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng các phòng thảo luận trực tuyến và cung cấp các bản nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng cũng như các dự báo công nghiệp đối với các mặt hàng cụ thể. Sự khác biệt giữa sàn giao dịch B2B công cộng và giao dịch B2B riêng? Phương thức nào các công ty có thể áp dụng? Các sàn giao dịch công cộng do các côngxoócxium hoặc các nhà đầu tư độc lập quản lý và có một ban giám đốc riêng. Mặc dù mỗi sàn giao dịch công cộng đều xây dựng những nguyên tắc riêng, nhưng nó vẫn được xây dựng dưới dạng mở để giúp các công ty khác sau khi đóng một khoản lệ phi nhất định có thể tham gia. Sàn giao dịch riêng do một công ty điều hành, được xây dựng với mục đích giúp công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh với một số nhà cung cấp và khách hàng đã được lựa chọn từ trước (mặc dù toàn bộ hệ thống hỗ trợ cho hoạt động của sàn giao dịch có thể do một công ty bên ngoài cung cấp). Việc lựa chọn hình thức sàn giao dịch phụ thuộc vào mục đích của các công ty. Nếu công ty mua và bán các sản phẩm hàng hoá, sàn giao dịch công cộng có thể là nơi tốt giúp họ tìm được giá mua hợp lý hơn hoặc tìm kiếm được những khách hàng mới. Đây là cách thức đang trở nên phổ biến giúp các công ty công ty giải phóng số hàng tồn kho đang quá lớn. Tuy nhiên, trong một số ngành công nghiệp, các nhà cung cấp không sẵn sàng bán hàng ở các sàn giao dịch công cộng vì họ ngại khách hàng sẽ tập hợp nhau lại để có thể mua hàng hàng với giá rẻ hơn và làm giảm lợi nhuận ròng của các nhà cung cấp. Các hình thức chung trong sàn giao dịch công cộng bao gồm mua hàng qua yêu cầu báo giá, mua hàng qua catalog và bán hàng qua đấu giá. Các công ty sử dụng phương thức giao dịch riêng lẻ là những công ty muốn tạo dựng mối quan hệ mật thiết hơn qua mạng trực tuyến với những khách hàng và những nhà cung cấp mà họ đã lựa chọn. Đồng thời, họ cho rằng sàn giao dịch riêng an toàn hơn vì dữ liệu trong quá trình giao dịch kinh doanh của họ sẽ khó bị lộ cho đối thủ cạnh tranh hơn khi có lỗ hổng về bảo mật. Các công ty cũng sử dụng sàn giao dịch riêng để trao đổi các thông tin như các bảng ngang đánh giá về khả năng giao hàng của các nhà cung cấp, các thông tin về doanh số dự đoán. Họ cũng sử dụng sàn giao dịch riêng để thiết lập sự kiểm soát trung tâm đối với các quá trình mua bán qua các hợp đồng đã được ký kết với các nhà cung cấp. Bước đầu tiên các công ty cần triển khai là gì? Hầu hết các công ty đều bắt đầu xây dựng hệ thống B2B để thu mua các hàng hoá gián tiếp, tức những hàng hóa không cấu thành trực tiếp sản phẩm, như đồ dùng văn phòng, các đồ bảo hành, bảo trì Các công ty bắt đầu từ đây vì việc xây dựng một catalog các nhà cung cấp đồ dùng văn phòng chắc chắn sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc thiết lập một hệ thống thu mua tự động các linh kiện kỹ thuật đặc biệt. Mặc dù chi phí triển khai các hệ thống này thấp hơn rất nhiều đối với các hệ thống thu mua hàng hóa trực tiếp nhưng hiệu quả của các hệ thống này lại rất lớn, giúp các công ty tiết kiệm rất nhiều tiền bạc và thời gian. Theo ước tính, thời gian thu mua các hàng hóa gián tiếp, tạo ra rất ít hoặc gần như không tạo ra giá trị gia tăng chiếm tới 80% tổng thời gian thu mua của công ty. Trong khi đó giá trị của các hàng hoá này chỉ chiếm 20% tổng giá trị thu mua. Về khía cạnh bán hàng, hãy thu nhận các ý kiến từ phía khách hàng của bạn. Bạn hãy bắt đầu với một dự án có khả năng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng khi tiến hành giao dịch với công ty bạn hoặc giảm được các chi phí bán hàng và các chi phí dịch vụ. Nhà sản xuất quần áo Greensboro và nhà cung cấp thiết bị văn phòng Office Depot đã xây dựng những trang web bán hàng trực tuyến theo yêu cầu của khách hàng. Thương mại điện tử B2B cộng tác là gì?Các công ty cần tích hợp các dây chuyền cung ứng, đó là một trong những mục đích cần hướng tới của các hệ thống thương mại điện tử B2B. Không chỉ cần chia sẻ những các kế hoạch cũng như các dự báo kinh doanh mới nhất, các công ty và đối tác kinh doanh còn chia sẻ khả năng tiếp cận trong thời gian thực những thông tin của hệ thống Kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp (Enterprice Resource Planning), hệ thống kiểm kê hàng hoá và các hệ thống khác. Các công ty cho biết bằng tích hợp hệ thống với đối tác giúp họ có khả năng đưa sản phẩm mới ra thị trường một cách nhanh hơn, giảm được thời gian sản xuất, giảm được số lượng hàng tồn kho và điều chỉnh nhanh chóng hơn theo nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng. Để có thể có được sự cộng tác được thành công, các công ty và đối tác của họ cần có các hệ thống có khả năng cập nhâth các dữ liệu chia sẻ một cách nhanh nhất và một cách thức để chuyển tải các thông tin đó theo đường điện tử. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại một rào cản rất lớn khi nhiều công ty vẫn tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình qua phone và fax. Tập đoàn Công nghiệp Goldman, nhà sản xuất các thiết bị máy móc đã nhận thấy rằng việc thuyết phục đối tác đầu tư vào việc nâng cấp hệ thống là hết sức cần thiết đối với việc hợp tác giữa hai bên. Tuy nhiên, ở đây cũng xuất hiện những mâu thuẫn về văn hoá kinh doanh. Không phải mọi công ty đều nhận ra giá trị của việc chia sẻ những thông tin mang tính bí mật đủ sự tin tưởng vào phía đối tác. Một số công ty vẫn lo sợ rằng việc hợp tác trực tuyến trên mạng có thể đem lại những kết quả tồi tệ. Những hoạt động kinh doanh nào là cần thiết trong một dự án B2B? Cần phải xác định rõ ràng đó chính là việc tiến hàng các giao dịch mua bán. Thương mại điện tử B2B có thể thay đổi một cách rõ rệt cách thức mà người mua tiến hành các giao dịch của mình, đặc biệt đối với công ty vẫn đang tiến hành các đơn đặt hàng theo cách thức truyền thống. Bộ phận bán hàng và dịch vụ khách hàng cần phải tham gia vào dự án vì đây bộ phận có tác động đến quy trình các công ty tiếp nhận và xử lý đơn hàng của khách hàng như thế nào. Cũng như vậy với bộ phận quản lý hàng hoá kiểm kê. Các công ty cũng cần phải bổ sung thêm vào dự án một số phòng ban khác nữa, phụ thuộc vào các chức năng của dự án được xây dựng. Vì dự án B2B liên quan cả đến những nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng nên cách thức tiến hành kinh doanh đối tác và khách hàng của công ty cũng phải thay đổi theo cho phù hợp. Điều đó thực sự không dễ dàng, kể cả khi một công ty có vai trò thống trị trong một lĩnh vực nào đó thì cũng không thể bắt tất cả các đối tác và khách hàng tiến hàng theo cách thức do họ triển khai. Cần phải có những phần mềm nào? Liệu chi phí cho nó có quá cao không? Nói một cách chính xác là những gì công ty cần phụ thuộc vào việc công ty tham gia vào thương mại điện tử B2B với tư cách là người mua hay người bán, áp dụng đối với các nguyên vật liệu gián tiếp hay trực tiếp và quy mô tích hợp các dây chuyền cung ứng. Các yếu tố trong hệ thống B2B có thể bao gồm cả phần mềm tạo đơn đặt hàng, thư hỏi hàng (requests for quotations - RFQs), xử lý đơn đặt hàng, tạo và quản lý các hoá đơn, trả lời các thư hỏi hàng và xử lý đơn đặt hàng. Ngoài ra còn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của công ty và cách thức tiến hành. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào việc hệ thống có hỗ trợ khả năng đàm phán trực tuyến, định giá linh hoạt, khả năng hỗ trợ cho các giao dịch quốc tế . |