Sản phẩm Phần mềm chuẩn
  Vpar 2 CRM  
Download : 7066
Download : 23512
  Vpar 3 DB   Vpar 5 DB
  Vpar 4 DB   Vpar 6 DB
Phòng tiếp khách...
Miền Bắc: Mr Toàn Nguyễn Quốc Toàn:1963 – Tư vấn trường: 0989 991 996  Nguyễn Quốc Toàn:1963 – Tư vấn trường: 0989 991 996
 Mr Dũng – Tư vấn kỹ thuật: 01662 459 336  Mr Dũng – Tư vấn kỹ thuật: 01662 459 336 Mr Dũng  Dương Văn Điệp - Tư vấn quản lý: 0915 141 386 Dương Văn Điệp - Tư vấn quản lý: 915 141 386 Mr Điệp
 Mr Bình – 1980 - Tư vấn quản lý: 0936 199 394  Mr Bình – 1980 - Tư vấn quản lý: 0936 199 394 Mr Bình  Nguyễn Thị Bích Hằng - Tư vấn quản lý: 0908 158 319 Nguyễn Thị Bích Hằng - Tư vấn quản lý: 0908 158 319 Bích Hằng
 Nguyễn Thanh Tú - Tư vấn quản lý: 0984 961 747  Nguyễn Thanh Tú - Tư vấn quản lý: 0984 961 747 Mr Tú  Mss Hằng – Chuyên viên tư vấn Vpar: 0936 292 366 Mss Hằng – Chuyên viên tư vấn Vpar: 0936292366 Thúy Hằng
Miền Nam: Mr Thông Tư vấn Vpar Mr Thông - Tư vấn Vpar
 Tư vấn Vpar  My status Mr Khoa  Trần Hạ Vi My status Hạ Vi
 Nguyễn Ngọc Thu  Nguyễn Ngọc Thu Ngọc Thu  Võ Thúy Quanh Võ Thúy Quanh Thuy Quanh

1. Công ty CP Xúc tiến Thương mại Thanh niên VN/ Tổ chức sự kiện, xúc tiến thương mại

2. Công ty TNHH Thiết bị Văn phòng Á Châu/ Thiết bị văn phòng

3. Công ty CP Báo cáo Đánh giá Việt Nam/ Tư vấn, nghiên cứu quản lý thị trường

4. Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Khương & Lê/ Mỹ phẩm Menard

5. Công ty CP Kinh Doanh Nhà Hoàng Hải/ Bất động sản

6. Công ty Gỗ Đức Thành / Nội thất bàn ghế

7. Công ty TNHH Thiết bị tự động Mỹ Á/ Thiết bị tự động

8. Công ty TNHH Thiên Nhẫn/ Phụ tùng ô tô xe máy

9. Công ty CP Quốc tế Việt Hàn/ Phụ tùng ô tô

10. Công ty CP Đầu tư phát triển Công nghệ Thời Đại Mới (MEGABUY)/ Thương mại điện tử (buôn bán các lại thiết bị qua mạng)

11. Công ty CP Y tế Đức Minh (AMV)/ Dược phẩm, tiêm phòng vacxin

12. Công ty TNHH TM và Đầu tư Phát triển Công nghệ (TECHPRO)/ Máy tính công nghiệp, tự động hóa & điều khiển, hệ thống an ninh - giám sát

13. Báo Nhịp cầu Đầu tư/ Báo chí

14. Công ty CP Đầu tư Phát triển Giáo dục & DL Sinh thái / Tư vấn, đào tạo

15. Công ty TNHH Nhất Bình/ Cơ khí

16. Công ty CP Tầm nhìn Tiến bộ Đại Nam (Avizone)/ Quảng cáo, quà tặng

17. Công ty TNHH Diệt mối & Khử trùng Hà Nội/ Diệt mối, khử trùng

18. TT Tổ chức hội nghị & DL chất lượng cao quốc tế (Golden Tour)/ Du lịch

19. Công ty Phát triển DL Ngôi Sao Mới (New Star Tour)

20. Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ kỹ thuật TESCO/ Phụ tùng ô tô

21. Công ty NAPROPHARM.,JSC/ Dược

22. Công ty Thiết bị Y tế Anh Khoa/ Thiết bị y tế

23. Công ty Địa ốc Nam Long/ Địa ốc, xây dựng

24. Công ty TNHH TM & DV MKY/ Kinh doanh thiết bị ngành ảnh

25. Công ty Thiết kế nội thất MT/ Thiết kế nội thất

26. Công ty TNHH Việt Mỹ 1 – ĐN/ Bồn tắm

27. Công ty TNHH Khánh An

28. Công ty TNHH Thiên Hòa/ Điện máy

29. Công ty TNHH Hoàng Long/ Máy tính

30. Công ty TNHH Saki/ Máy & Thiết bị xây dựng

31. Công ty Cảng Hàng Không Miền Nam/ Cảng hàng không

32. Công ty TNHH Bột Mì Trung Nam/ Bột mì

33. Công ty TNHH Kính Tiên/ Kính

34. Công ty TNHH Imeco/ Thiết bị ô tô

35. Công ty THHH Hưng Thịnh/ Địa ốc

36. Công ty CP Giao nhận Vận tải Ngoại thương Hà Nội (Vinatrans)/ Giao nhận, vận chuyển

37. Công ty CP Thiết bị ngành nước & xây dựng Hà Nội/ Thiết bị ngành nước

38. Công ty TNHH Kim Quang/ Thiết bị cơ khí

39. Công ty TNHH Tín Đức. Thiết bị định vị vệ tinh, ống nhòm, bộ đàm

40. Công ty TNHH Tân Sao Mai/ Tư vấn đầu tư

41. Công ty TNHH Rinki Việt Nam/ Thiết bị điều hòa không khí, thang máy

42. Công ty TNHH Hải Sơn/ Thiết bị

43. Công ty CP Tôn Hiệp Hưng/ Sản xuất tôn

44. Công ty CP Anh Thăng/ Thiết bị phun nước

45. Công ty CP Địa ốc Đất xanh/ Xuất nhập khẩu khoáng sản

46. Công ty TNHH Điện thoại Vân Chung/ Điện thoại, tổng đài, máy fax,

47. Trung tâm Thương mại Du lịch Quốc tế Thăng Long/ Du lịch, dịch vụ

48. Công ty TNHH Thiết bị khoa học Việt Anh/ Thiết bị y tế

49. Công ty TNHH Lê Trường/ Phụ tùng ôtô

50. Công ty TNHH Hệ thống công nghiệp Việt Nam/ Thiết bị điện công nghiệp

51. Công ty CP Lâm sản Bắc Á/ Xuất nhập khẩu khoáng sản

52. Công ty TNHH Thiết bị Minh Tâm / Thiết bị y tế

53. Công ty TNHH SunMedia/ Thiết bị Viễn thông

54. Công ty TNHH Sơn Nguyễn/ Xây dựng, thiết kế

55. Công ty TNHH An Binh/ Vận chuyển, kho bãi

56. Công ty TNHH Hoàng Mỹ/ Du lịch

57. Công ty TNHH FuturOne/ Ô tô

58. Công ty TNHH Sadaco/ Ô tô

59. Công ty DIC/ Vật liệu xây dựng

60. Công ty BDC/ Hội thảo sự kiện

61. Công Ty Bảo Tín / Máy móc, thiết bị ngành in

62. Công ty CP Truyền Thông Đa Phương Tiện Việt Nam/ Thiết kế website, quảng cáo Internet, CNTT

63. Công ty CP Thương mại Thái Bình Dương/ May mặc

64. Công ty TNHH Thương mại Hoàng Anh/ Nước - vật tư thiết bị dịch vụ

65. Công ty TNHH Ca An/ Giấy in

66. Công ty Ôtô Huyndai Giải Phóng /Ô tô

67. Công ty Cổ phần đầu tư An Phát/ Thiết bị ngành nước, điện tử, điện lạnh

68. Công ty TNHH Hệ thống tự động Sơn Hà/ Cửa cuốn tự động

69. Công ty CP SNC/ Dây đồng trần, hạt nhựa PVC và hạt PP

70. Chi nhánh Công ty TNHH Công nghiệp Việt Thái/ Giấy ăn, giấy vệ sinh

71. Công ty TNHH Kính Nghệ Thuận ARTGLASS/ Mắt Kính

72. Công ty CP Thế giới bơm/ Bơm

73. Công ty TNHH Thiết bị máy móc Đại Chính Quang/ Máy móc công nghiệp

74. Công Ty CP Thanh Hà/ Phân bón

75. Công ty TNHH Việt Tiến/ Phân bón

76. Công ty Thương mại Vật tư Khoa học Kỹ thuật/ Thiết bị y tế

77. Công ty TNHH Thế hệ mới/ Kinh doanh, xuất khẩu trà

78. Công ty TNHH Thương mại quốc tế Liên Á/ Thiết bị điện

79. Công ty TNHH Thương mại & Sản xuất Thanh Ngân/ Thiết bị văn phòng

80. Công ty An Dân (Gami Group)/ Ô tô

81. Công ty An Hưng (Gami Group)/ Cho thuê ô tô

82. Công ty An Phú Hưng (Gami Group)/ Nội thất

83. Công ty TNHH Phát triển Công nghệ môi trường Lâm Nguyễn/ Máy lọc nước

84. Công ty TNHH Dịch vụ giao nhận AAAS/ Dịch vụ giao nhận

85. Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Nam An/ Bất động sản, nhà đất

86. Công ty CP Dệt Kim Đông Phương/ Sản xuất, kinh doanh hàng may mặc

87. Công ty CP Thiết bị Y tế Hồng Thiện Mỹ/ Thiết bị y tế

88. Công ty ahead/ Tư vấn, đầu tư

89. Công ty FPT/ Phần mềm, công nghệ thông tin

90. Công ty Tân Bảo/ Thiết bị camera

91. Công ty Phương Anh/ Thiết bị điện, chiếu sáng

92. Công ty quảng cáo Bút Việt/ Truyền thông, quảng cáo

93. Công ty máy tính Ben / Máy tính

94. Công ty tư vấn chiến lược SAG/ Quà tặng

95. Công ty CP quảng cáo hội chợ thương mại Việt Mỹ (VTNATAPS)/ Quảng cáo, tổ chức hội chợ

96. Công ty kho vận Miền Nam (SOTRANS)/ Giao nhận hàng hoá

97. Công ty kỹ nghệ súc sản Visan Việt Nam/ Thực phẩm đã chế biến

98. Công ty TNHH Phong Châu/ Thủ công mỹ nghệ

99. Công ty Cổ phần công nghiệp Tự Cường/ Kinh doanh cáp điện

100. Công ty Dược Bách Thảo/ Dược phẩm

101. Công ty TNHH Việt Phan/ Thiết bị y tế

102. Công ty Cổ phần vật tư kỹ thuật & vận tải ô tô/ Vận tải, cung cấp phụ tùng , thiết bị

103. Công ty TNHH Hoàn Mỹ/ Thiết bị vệ sinh

104. Công ty Cổ phần B4/ Kinh doanh điện tử, điện lạnh

105. Công ty xây dựng và phát triển thương mại Bắc Nam/ Kinh doanh bất động sản, xe gắn máy

106. Công ty thương mại và công nghiệp ô tô/ Điện lạnh & Tủ lạnh, thiết bị, phụ tùng

107. Công ty Cổ phần thương mại CITICOM/ Kinh doanh thép

108. Công ty TM – DV kỹ thuật điện Đoan Khanh/ Thương mại , dịch vụ điện

109. Công ty Cổ phần sáng tạo công nghiệp/ Tư vấn, dịch vụ, thương mại

110. Công ty TNHH nhựa Hoàng Hà/ Nhựa

111. Công ty TNHH Tana/ Dịch vụ viễn thông

112. Công ty máy tính Phương Thịnh/ Thương mại, dịch vụ máy tính

113. Công ty thương mại Tùng Lâm/ Thương mại, sản xuất, phân phối mạng

114. Công ty thương mại và du lịch Mỹ Minh/ Du lịch dịch vụ , cho thuê xe

115. Công ty thiết bị Việt Nhật/ Thương mại

116. Công ty tự động hoá A&E/ Thương mại, sản xuất, phân phối mạng

117. Công ty thang máy Thiên Nam/ Thang máy

118. Công ty dịch vụ và vận tải T&S/ Dịch vụ vận tải

119. Công ty Sông Nhuệ dược phẩm / Dược phẩm

120. Công ty Cổ phần truyền hình cáp Mẫu Sơn/ Truyền hình cáp

121. Công ty TNHH Sản xuất và thương mại Việt Phát/ Nước uống: sản suất, thương mại

122. Công ty Tin học tự động hoá và phần mềm Ánh sáng Lígh soft/ Phần mềm

123. Công ty Cầu trục và thiết bị AVC/ Thiết bị, cầu trục

124. Công ty TNHH tự động hoá OMINA/ Tự động hóa

125. Công ty TNHH dây và cáp Điện Ngọc Khánh/ Cáp điện

126. Công ty Xuất nhập khẩu Nam Đô/ Phân phối mạng

127. Thời báo kinh tế Việt Nam/ Báo chí, tổ chức sự kiện

128. Công ty sơn Asee Việt Nam/ Sơn

129. Câu lạc bộ doanh nghiệp Việt Nam/ Hiệp hội, báo chí, tổ chức sự kiện

130. Công ty Việt Nhật thiết bị y tế/ Thương mại

131. Công ty tư vấn chuyển giao công nghệ Việt Anh/ Tư vấn, dịch vụ, thương mại

132. Công ty TNHH Phong Nam/ Nhựa: Sản xuất, thương mại

133. Công ty An dân/ Thương mại, dịch vụ ( ô tô )

134. Công ty TNHH Nhật Thắng/ Mây tre: Sản xuất thương mại

135. Công ty TNHH dược phẩm An Vượng/ Dược phẩm: Sản xuất thương mại

136. Công ty Cáp thép/ Thép: Thương mại và dịch vụ

137. Công ty TNHH TM - DV - XD điện và tự động hoá ACE/ Tự dộng hoá các trang thiết bị điện

138. Công ty TNHH vật tư thiết bị điện Tuyết Cường/ Tự động hoá hệ thống trang thiết bị

139. Công ty điện thoại Việt Nam VIETPHONE/ Giải pháp viễn thông - An ninh - điện tử

140. Công ty TNHH Ngọc Linh/ Thẻ, Thiết bị hàn,Thiết bị công nghiệp:

141. Công ty TNHH quốc tế D&N/ Tư vấn, dịch vụ luật

142. Công ty thiết bị phụ tùng An Phát/ Cơ khí: Sản xuất, gia công

143. Công ty TNHH Nam Cường/ Máy móc: Sản xuất, lắp ráp

144. Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Viêt Nam - Nhật Bản/ Tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực

145. Công ty phát triển kỹ thuật và thương mại/ Sản xuất, thương mại, dịch vụ

146. Công ty Đất Xanh/ Kinh doanh phát triển dự án

147. Trung Tâm Kinh Doanh Bất Động Sản InTresCo/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

148. Công ty Địa Ốc Khang Gia/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án, cho thuê

149. Công ty CP Phát Triển Nam Sài Gòn (SaDeCo)/ Kinh doanh phát triển dự án

150. Công ty Danh Khôi/ Kinh doanh & môi giới bất động sản

151. Công ty CP Kinh Doanh & Phát triển Bình Dương (Becamex TDC)/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

152. Công ty Địa Ốc Phú Long/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

153. Công ty CP Địa Ốc Hưng Phú/ Kinh doanh bất động sản

154. Công ty cổ phần báo cáo đánh giá Việt Nam

155. Công ty cổ phần công nghệ tin học Cuộc Sống Việt

156. Công ty Cổ Phần Đầu Tư TOPCOM

157. CÔNG TY CỔ PHẦN HANELMIROLIN

158. Công ty Cổ Phần H-PEC Việt Nam

159. Công ty Cổ phần Quản lý Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Nam

160. Công ty cổ phần Sinh học và Y học tái tạo FBM

161. Công ty Hà Nội TC

162. Công ty Máy Tính Phúc Anh

163. Công ty TNHH Điện lạnh, điện máy Việt Úc

164. Công ty TNHH Hatuba

165. Công ty TNHH Luật & Tư vấn Đầu tư Incip

166. Công ty TNHH Nam Cường

167. Công ty TNHH Quốc tế D&N

168. Công ty TNHH TBMM Đại Chính Quang

169. CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ GTVT

170. CÔNG TY TNHH TÍN ĐỨC

171. Công ty TNHH TM Việt Thái Sinh

172. Trung tâm Anh ngữ English Hanoi

173. Công ty Cổ phần công nghệ liên kết truyền thông

174. Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Châu Á

175. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HỒNG PHÁT

176. Công ty cổ phần Sinh học và Y học tái tạo FBM

177. Công ty cổ phần thời trang Chương

178. Công ty CP Viễn Thông Tin Học STAPHONE

179. Công ty TNHH Hatuba

180. Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Phương Linh

181. Trung tâm Anh ngữ English Hanoi

182. Công Ty Cao Su Phú Việt


Phân tích thị trường người tiêu dùng và hành vi của người mua(phần 2)

Ví dụ, một người đang sắp chết đói (nhu cầu 1) sẽ không quan tâm đến những gì vừa mới xảy ra trong thế giới nghệ thuật (nhu cầu 5) hay những người chung quanh nhìn mình hay tôn trọng mình như thế nào (nhu cầu 2). Nhưng khi mỗi nhu cầu được thỏa mãn, thì nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo sẽ nổi lên hàng đầu.

 

Lý thuyết của Maslow đã giúp người làm Marketing hiểu được các sản phẩm khác nhau phù hợp như thế nào với các ý đồ, mục đích và đời sống của những người tiêu dùng tiềm ẩn. Vậy lý thuyết của maslow đã làm sáng tỏ được điều gì về mối quan tâm của Linda đến chuyện mua một máy tính? Ta có thể đoán nhận được rằng Linda đã thỏa mãn được những nhu cầu sinh lý, an toàn và xã hội. Mối quan tâm của bà đến máy tính có thể bắt nguồn từ một nhu cầu mãnh liệt được mọi người xung quanh kinh nể hơn hay từ một nhu cầu cao hơn là tự khẳng định mình.

 

Nhận thức

 

Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Vấn đề người có động cơ đó sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự nhận thức của người đó về tình huống lúc đó. Linda có thể cho rằng nhân viên bán máy tính nói chuyện liến thoắng là một người đa mưu và không thành thật. Nhưng khách hàng khác có thể lại cho rằng người bán hàng đó là một người thông minh và ân cần.

 

Tại sao người ta lại có nhận thức khác nhau về cùng một tình huống? Vấn đề là ở chỗ chúng ta nắm bắt sự vật là tác nhân thông qua những cảm giác truyền qua năm giác quan của mình: Thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác và vị giác. Tuy nhiên mỗi người chúng ta lại suy xét, tổ chức và giải thích thông tin cảm giác đó theo cách riêng của mình. Nhận thức được định nghĩa là "một quá trình thông qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh". Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý, mà còn phụ thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường xung quanh và những điều kiện bên trong cá thể đó.

 

Người ta có thể có những nhận thức khác nhau về cùng một khách thể do có ba quá trình nhận thức: Sự quan tâm có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lựa và sự ghi nhớ có chọn lọc.

 

Sự quan tâm có chọn lọc. Hàng ngày người ta tiếp xúc với vô số các tác nhân kích thích. Ví dụ, một người trung bình có thể tiếp xúc với hàng nghìn quảng cáo mỗi ngày. Dĩ nhiên người đó không thể chú tâm đến tất cả những tác nhân kích thích đó. Phần lớn những tác nhân kích thích đó bị sàng lọc đi. Một thách thức thực sự là làm thế nào giải thích được là người ta sẽ chú ý đến những tác nhân kích thích nào. Sau đây là một số kết quả thu được.

 

+ Người ta có khuynh hướng chú ý đến những tác nhân kích thích có liên quan đến một nhu cầu hiện có: Linda sẽ chú ý đến những quảng cáo về máy tính bởi vì bà ta đang có động cơ muốn mua một máy tính. Và chắc chắn là sẽ không để ý đến những quảng cáo về thiết bị âm thanh nổi.

+ Người ta có khuynh hướng chú ý đến những tác nhân kích thích mà họ đang mong đợi: Linda chắc chắn sẽ chú ý đến các máy tính chứ không phải những máy thu thanh khi đến một cửa hàng máy tính, bởi vì bà ta không mong đợi cửa hàng đó cũng bán cả máy thu thanh.

+ Người ta có khuynh hướng chú ý đến những tác nhân kích thích có những điểm khác biệt hẳn với những tác nhân thông thường: Linda chắc chắn sẽ chú ý đến quảng cáo chào bán máy tính Apple giảm giá 100 USD hơn là một quảng cáo chào bán chỉ giảm có 6 USD.

 

Sự quan tâm có chọn lọc có nghĩa là những người làm Marketing phải cố gắng hết sức để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Những thông điệp của họ sẽ bị bỏ qua đối với phần lớn những người không tìm kiếm sản phẩm đó trên thị trường. Ngay cả những người đang tìm kiếm sản phẩm đó cũng có thể không chú ý đến thông điệp, nếu nó không nổi bật lên giữa một biển những tác nhân kích thích bao quanh. Những quảng cáo có kích thích càng lớn hay sử dụng bốn màu, mới và có sự tương phản chắc chắn sẽ được chú ý đến nhiều hơn.

 

Sự bóp méo có chọn lọc. Ngay cả những tác nhân kích thích đã được chú ý đến cũng không nhất thiết sẽ được tiếp nhận đúng như dự kiến. Mỗi người đều cố gò ép thông tin nhân được vào khuôn khổ những ý nghĩ sẵn có của mình. Sự bó méo có chọn lọc mô tả khuynh hướng con người muốn gán cho thông tin những ý nghĩa của cá nhân mình. Chẳng hạn như Linda có thể nghe thấy nhân viên bán hàng nhắc tới những mặt tốt và xấu của máy tính IBM. Nếu Linda có nhiều thiện cảm với IBM, thì chắc chắn bà ta sẽ gạt bớt những điều khẳng định xấu để biện hộ cho việc mua một máy tính IBM. Người ta giải thích thông tin theo cách ủng hộ chứ không phải thách thức những quan niệm đã sẵn có.

 

Sự ghi nhớ có chọn lọc. Người ta sẽ quên đi nhiều cái mà họ học được. Họ có khuynh hướng giữ lại những thông tin ủng hộ thái độ và niềm tin của mình. Chính là vì sự ghi nhớ có chọn lọc mà Linda chắc chắn sẽ nhớ những điểm tốt đã được nhắc đến về máy tính IBM và quên đi những điểm tốt đã được nhắc đến về các máy tính cạnh tranh khác. Bà ta nhớ những điểm tốt của IBM là vì bà ta đã "nghiền ngẫm" chúng nhiều nhất mỗi khi bà suy nghĩ đến việc lựa chọn một máy tính.

 

Những yếu tố nhận thức này, (sự quan tâm có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn lọc), có nghĩa là những người làm Marketing phải cố hết sức mình để đưa được các thông điệp của mình đến địa chỉ cần thiết. Điều này giải thích tại sao những người làm Marketing đã sử dụng kịch nói và cách lặp đi lặp lại nhiều lần để gửi thông điệp của mình đến các thị trường mục tiêu.

 

Tri thức

 

Khi người ta hành động họ cũng đồng thời lĩnh hội được tri thức, tri thức mô tả những thay đổi trong hành vi của cá thể bắt nguồn từ kinh nghiệm. Hầu hết hành vi của con người đều được lĩnh hội. Các nhà lý luận về tri thức cho rằng tri thức của một người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp lại và sự củng cố.

 

Có lẽ là Linda có một sự thôi thúc tự khẳng định mình. Sự thôi thúc được định nghĩa là một tác nhân kích thích nội tại thúc đẩy hành động. Sự thôi thúc của bà ta đã trở thành một động cơ khi nó hướng vào một đối tượng - tác nhân kích thích cụ thể có khả năng giải tỏa sự thôi thúc, trong trường hợp ở đây là một máy tính. Phản ứng đáp lại của Linda đối với ý tưởng mua một máy tính bắt nguồn từ những tấm gương ở xung quanh. Những tấm gương là những tác nhân kích thích thứ yếu, quyết định người đó phản ứng đáp lại vào lúc nào, ở đâu và như thế nào. Sự ủng hộ của chồng bà, hình ảnh một chiếc máy tính ở nhà bạn, những quảng cáo và bài báo về máy tính, những tin đồn về giá bán đặc biệt, tất cả đều là những tấm gương có thể ảnh hưởng đến phản ứng đáp lại của Linda đối với sự quan tâm của bà về chuyện một máy tính.

 

Giả sử Linda mua một máy tính và đã chọn máy tính IBM. Nếu kinh nghiệm của bà quả là bổ ích, thì phản ứng đáp lại của bà đối với các máy tính sẽ được củng cố.

 

Sau này có thể Linda lại muốn mua một máy sao chụp. Bà chú ý đến một số nhãn hiệu, trong đó có nhãn hiệu của IBM. Vì bà biết rằng IBM sản xuất ra những máy tính tốt, nên bà có thể suy ra rằng IBM cũng sản xuất ra những máy sao chụp tốt. Ta nói bà đã khái quát hoá phản ứng đáp lại của mình cho những tác nhân kích thích tương tự.

 

Xu hướng ngược lại với khái quát hóa là quá trình phân biệt. Khi Linda nghiên cứu một máy sao chụp do hãng Sharp sản xuất, bà thấy rằng nó nhẹ hơn và gọn hơn máy của IBM. Việc phân biệt ở đây có nghĩa là ba ta đã học được cách nhận biết những điểm khác nhau trong một tập hợp những tác nhận kích thích tương tự và có thể điều chỉnh lại phản ứng đáp lại của mình phù hợp.

 

Lý thuyết về tri thức dạy cho những người làm Marketing rằng họ có thể tạo ra được nhu cầu đối với một sản phẩm bằng cách gắn liền nó với những sự thôi thúc mạnh mẽ, sử dụng những động cơ, tấm gương và đảm bảo sự củng cố tích cực. Một công ty mới có thể tham gia thị trường bằng cách vận dụng những sự thôi thúc mà các đổi thủ cạnh tranh đã sử dụng và tạo ra những kiểu dáng tương tự, bởi vì người mua có khuynh hướng chuyển lòng trung thành sang những nhãn hiệu tương tự hơn là sang những nhãn hiệu khác hẳn (khái quát hoá) . Hay công ty cũng có thể thiết kế nhãn hiệu của mình để tạo nên một số những thôi thúc khác và đảm bảo có những tác nhân mạnh mẽ kích thích chuyển nhãn hiệu (quá trình phân biệt).

 

Niềm tin và thái độ

 

Thông qua hoạt động và tri thức, người ta có được niềm tin và thái độ. Những yếu tố này lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của con người.

 

Đương nhiên, các nhà sản xuất rất quan tâm đến những niềm tin mà người ta mang trong đầu mình về những sản phẩm và dịch vụ của mình. Những niềm tin đó tạo nên những hình ảnh của sản phẩm cũng như nhãn hiệu và người ta hành động theo những hình ảnh đó. Nếu có niềm tin nào đó không đúng đắn và cản trở việc mua hàng thì nhà sản xuất cần thiết hành một chiến dịch để uốn nắn lại những niềm tin đó.

 

Thái độ diễn tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên nhận thức bền vững, những cảm giác cảm tính và những xu hướng hành động của một người đối với một khách thể hay một ý tưởng nào đó. Người ta có thái độ đối với hầu hết mọi sự việc: Tôn giáo, chính trị, quần áo, âm nhạc, thực phẩm v...v. Thái độ dẫn họ đến quyết định thích hay không thích một đối tượng nào đó, đến với nó hay rời xa nó. Chẳng hạn như Linda có thể có những thái độ như cho rằng "máy tính là công cụ chủ chốt đối với những người làm nghề chuyên nghiệp", "hãy mua thứ tốt nhất", và "IBM sản xuất những máy tính tốt nhất trên thế giới". Cho nên đối với Linda, máy tính IBM là đáng chú ý nhất, vì nó rất phù hợp với những thái độ đã hình thành trước đó của bà ta. Công ty máy tính có thể kiếm được món lời lớn nếu tiến hành nghiên cứu thái độ của mọi người đối với sản phẩm và những hiệu của công ty.

 

Thái độ làm cho người ta xử sự khá nhất quán đối với những sự vật tương tự. Người ta không phải giải thích và phản ứng với mỗi sự vật theo một cách mới. Thái độ cho phép tiết kiệm sức lực và trí óc. Vì thế mà rất khó thay đổi được thái độ. Thái độ của một người được hình thành theo một khuôn mẫu nhất quán, nên muốn thay đổi luôn cả những thái độ khác nữa.

 

Vì thế người ta khuyên công ty nên làm cho sản phẩm của mình phù hợp với những thái độ sẵn có, chứ không nên cố gắng thay đổi thái độ của mọi người. Đương nhiện, cũng có những trường hợp ngoại lệ khi mà chi phí rất tốt kém cho những nỗ lực nhằm thay đổi thái độ được bù đắp lại một cách thỏa đáng.

 

Khi công ty Honda xâm nhập thị trường mô tô của Hoa Kỳ nó đã phải đương đầu với một quyết định quan trọng. Công ty có thể bán xe môtô của mình cho một ít người đã quan tâm đến mặt hàng này hay cố gắng tăng số lượng người quan tâm đến môtô. Hướng thứ hai sẽ tốn kém hơn bởi vì nhiều người có thái độ xấu đối với môtô. Họ gắn liền môtô với những chiếc áo da màu đen, con dao lò so và tội phạm. Tuy vậy Honda vẫn đi theo hướng thứ hai, và tung ra một chiến dịch lớn dựa trên chủ đề "bạn sẽ gặp những người tuyệt vời nhất khi đi xe Honda". Chiến dịch của họ đã thành công và nhiều khách hàng đã chấp nhận một thái độ mới đối với môtô.

 

Bây giờ ta đã đánh giá được khá nhiều những lực lượng tác động đến hành vi của người tiêu dùng. Cách lựa chọn hàng hóa của một người là kết quả của sự tác động qua lại phức tạp giữa các yêu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Trong số những yếu tố đó, có nhiều yếu tố không chịu ảnh hưởng của người làm Marketing. Tuy nhiên, chúng vẫn có ích lợi cho việc phát hiện những người mua quan tâm nhiều nhất đến sản phẩm đó. Những yếu tố khác chịu ảnh hưởng của người làm Marketing và gợi ý cho họ phải phát triển sản phẩm, định giá, tổ chức lưu thông và khuyến mãi như thế nào để tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ của người tiêu dùng.

 

3. Quá trình thông qua quyết định mua hàng

 

Những người làm Marketing không những phải tạo được những ảnh hưởng khác nhau đến người mua mà còn phải tìm hiểu xem người tiêu dùng thực tế đã thông qua các quyết định mua hàng của mình như thế nào. Người làm Marketing phải xác định được ai là người thông qua quyết định mua hàng, các kiểu quyết định mua sắm và những bước đi của quá trình mua sắm.

 

Các vai trò trong việc mua sắm

 

Đối với nhiều sản phẩm rất dễ xác định người mua. Đàn ông thường chọn máy cạo râu, còn phụ nữ thì chọn vớ liền quần. Có những sản phẩm đòi hỏi tập thể thông qua quyết định gồm hai người trở lên. Hãy xét trường hợp lựa chọn ôtô cho gia đình. Đứa con trai ở tuổi thiếu niên có thể đề xuất mua một chiếc xe mới. Ban bè có thể góp ý cho gia đình về kiểu xe nên mua. Người chồng có thể chọn kiểu xe. Người vợ có thể có những ước muốn nhất định về kích thích và trang trí bên trong của xe. Người chồng có thể đảm bảo chi tiền. Người vợ có thể sử dụng xe nhiều hơn chồng mình.


Vì vậy ta có thể phân biệt năm vai trò của mọi người trong một quyết định mua sắm:

 

+ Người chủ xướng: Người đầu tiên nêu lên ý tưởng mua một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể.

+ Người có ảnh hưởng: Người có quan điểm hay ‎‎y kiến có ảnh hưởng đến quyết định

+ Người quyết định: Người quyết định mọi yếu tố trong quyết định mua sắm: Có nên mua không, mua cái gì, màu như thế nào hay mua ở đâu.

+ Người mua: Người thực hiện việc mua sắm thực tế

+ Người sử dụng: Người tiêu dùng hay sử dụng sản phẩm hay dịch vụ

 

Công ty cần xác định những vai trò này, bởi lẽ chúng có những hàm ý đối với việc thiết kế sản phẩm, xác định nội dung thông điệp, và phân bổ ngân sách khuyến mãi. Nếu người chồng quyết định kiểu xe, thì công ty ôtô phải đảm bảo quảng cáo đến được người chồng, công ty ôtô có thể thiết kế những tính năng nhất định của xe để làm hài lòng người vợ. Khi biết rõ những người tham gia chính và vai trò của họ, người làm Marketing có thể điều chỉnh chi tiết chương trình Marketing cho phù hợp.

 

Các kiểu hành vi mua sắm

 

Cách thông qua quyết định của người tiêu dùng thay đổi tuỳ theo kiểu quyết định mua sắm. Giữa việc mua một ống thuốc đánh răng, một cây vợt tennis, một máy tính cá nhân và một chiếc ôtô mới có những sự khác biệt rất lớn. Chắc chắn là những món hàng phức tạo và đắt tiền sẽ đòi hỏi người mua phải cân nhắc kỹ hơn và có nhiều người tham gia quyết định hơn. Assael đã phân ra bốn kiểu hành vi mua sắm của người tiêu dùng căn cứ vào mức độ tham gia của người mua và mức độ khác nhau giữa các nhãn hiệu. Bốn kiểu này được liệt kê trong bảng 4-3 và mô tả trong những đoạn tiếp sau. 

 

 

Mức độ tham gia cao

Mức độ tham gia thấp

Các nhãn hiệu khác nhau rất nhiều

Hành vi mua sắm phức tạp

Hành vi mua sắm tìm kiếm sự đa dạng

Các nhãn hiệu khác nhau ít

Hành vi mua sắm đảm bảo hài hòa

Hành vi mua sắm thông thường

Bảng 4-3. Bốn kiểu hành vi mua sắm

 

Hành vi mua sắm phức tạp

 

Người tiêu dùng có hành vi mua sắm phức tạp khi họ tham gia nhiều vào việc mua sắm và ý thức rõ những khác biệt lớn giữa các nhãn hiệu. Người tiêu dùng tham gia nhiều trong những trường hợp sản phẩm đắt tiền, ít khi mua, có nhiều rủi ro, và có tác dụng tự biểu hiện cao. Thông thường người tiêu dùng đó không biết nhiều lắm về loại sản phẩm và phải tìm hiểu nhiều. Ví dụ, một người mua máy tính cá nhân có thể không biết phải tìm kiếm những tính chất nào của máy. Nhiều tính năng của sản phẩm không chứa đựng ý nghĩa gì: "Bộ nhớ 16K", "lưu bằng đĩa", "độ phân giải màn hình", v.v…

 

Người mua đó sẽ phải trải qua một quá trình học tập để trước tiên là xây dựng niềm tin về sản phẩm, rồi đến thái độ, và sau đó là tiến hành lựa chọn hàng một cách thận trọng. Người làm Marketing một sản phẩm đòi hỏi người mua tham gia nhiều, phải nắm được hành vi, thu nhập thông tin và đánh giá của người tiêu dùng. Người làm Marketing cần xây dựng những chiến lược nhằm hỗ trợ người mua tìm hiểu những tính năng của lớp sản phẩm đó, tầm quan trọng tương đối của chúng và sự đánh giá cao về những tính chất tương đối quan trọng của nhãn hiệu công ty. Người làm Marketing cần làm cho những tính chất của nhãn hiệu khác biệt hẳn, sử dụng phương tiện in ấn và bài giới thiệu dài để mô tả những ích lợi của nhãn hiệu, động viên nhân viên bán hàng của cửa hàng và những người quen của người mua để tác động đến việc lựa chọn nhãn hiệu cuối cùng.

 

Hành vi mua sắm đảm bảo hài hòa

 

Đôi khi người tiêu dùng tham gia nhiều vào việc mua sắm, nhưng thấy các nhãn hiệu không khác nhau nhiều lắm. Phải tham gia nhiều cũng chỉ là vì món hàng đó đắt tiền, ít khi mua và có nhiều rủi ro. Trong trường hợp này, người mua sẽ đi vòng quanh để xem có những gì đang bán, nhưng rồi mua khá nhanh gọn, bởi vì sự khác biệt giữa các nhãn hiệu không rõ rệt lắm. Người mua có thể phản ứng chủ yếu là theo giá hời hay điều kiện mua thuận tiện. Ví dụ, việc mua thảm trải sàn đòi hỏi phải tham gia nhiều vào quyết định, vì nó đắt tiền và dễ đập vào mắt, song người mua có thể cho rằng với một khoảng giá nhất định các nhãn hiệu thảm đều như nhau.

 

Sau khi mua người tiêu dùng có thể thấy nó không hài hòa do nhận thấy thảm có những tính chất nhất định đáng băn khoăn hay nghe thấy những dư luận tốt về những loại thảm khác. Người tiêu dùng sẽ rất nhạy cảm với những thông tin có thể biện hộ cho quyết định của mình. Trong ví dụ này, người tiêu dùng đã hành động trước tiên, rồi sau đó mới có những niềm tin mới và cuối cùng là đi đến một số thái độ. ở đây các thông tin Marketing phải nhằm tạo dựng niềm tin và đưa ra những đánh giá để giúp người tiêu dùng yên tâm với cách lưạ chọn của mình.

 

Hành vi mua sắm thông thường

 

Nhiều sản phẩm được mua trong điều kiện ít có sự tham gia của người tiêu dùng và không có sự khác nhau lớn giữa các nhãn hiệu. Hãy xét trường hợp mua muối ăn. Người tiêu dùng ít phải bận tâm đối với loại sản phẩm này. Họ đến cửa hàng và mua một nhãn hiệu bắt gặp. Nếu họ cố tìm nhãn hiệu cũ, thì đó chỉ là do thói quen, chứ không phải là một sự trung thành với nhãn hiệu. Có những bằng chứng rõ ràng, chứng tỏ rằng người tiêu dùng ít bận tâm đến những sản phẩm rẻ tiền và mua thường xuyên.

 

Trong trường hợp này, hành vi của người tiêu dùng không trải qua trình tự bình thường niềm tin/ thái độ/ hành vi. Người tiêu dùng không ra sức tìm kiếm thông tin về các nhãn hiệu, đánh giá các đặc điểm của chúng, rồi đi đến quyết định mua nhãn hiệu nào. Trái lại, cho thụ động tiếp nhận thông tin khi xem truyền hình hay các mục quảng cáo trên báo chí. Sự cạnh tranh quảng cáo tạo ra sự quen thuộc với nhãn hiệu chứ không tạo ra sự tin tưởng vào nhãn hiệu. Người tiêu dùng không hình thành một thái độ rõ ràng về một nhãn hiệu, mà lựa chọn nó chỉ vì nó quen thuộc. Sau khi mua, thậm chí họ có thể không đánh giá việc lựa chọn vì họ không quan tâm nhiều đến sản phẩm đó. Như vậy quá trình mua sắm là niềm tin vào nhãn hiệu được hình thành theo trí thức được lĩnh hội thụ động, tiếp đến là hành vi mua hàng, rồi sau đó có thể tiếp đến việc đánh giá.

 

Những người làm Marketing những sản phẩm ít có sự tham gia của người mua và các nhãn hiệu ít khác nhau thấy rằng hiệu quả nhất là sử dụng giá cả và các biện pháp kích thích tiêu thụ để kích thích việc dùng thử sản phẩm, vì người mua không gắn bó chặt chẽ với bất kỳ nhãn hiệu nào. Khi quảng cáo chỉ nên nhấn mạnh vào một vài điểm then chốt. Những biểu tượng và hình ảnh rất quan trọng, bởi vì chúng dễ nhớ và gắn liền với nhãn hiệu. Các chiến dịch quảng cáo phải lặp đi lặp lại nhiều lần với thời lượng ngắn. Truyền hình có hiệu quả hơn các phương tiện báo chí, vì nó là một phương tiện không cần chăm chú nhiều nên rất phù hợp với trường hợp lĩnh hội tri thức thụ động. Việc lập kế hoạch quảng cáo phải dựa trên cơ sở lý thuyết quyết định cổ điển theo đó người mua học cách nhận diện một sản phẩm nhất định theo biểu tượng được gắn vào nó nhiều lần.

 

Người làm Marketing có thể cố gắng chuyển sản phẩm không cần để ý nhiều thành sản phẩm cần để ý nhiều. Điều này có thể thực hiện được bằng cách gắn sản phẩm đó với những vấn đề liên quan, như thuốc đánh răng P/S được gắn với tác dụng chống sâu răng. Hay sản phẩm có thể được gắn liền với một tình huống cá nhân hữu quan nào đó, chẳng hạn như bằng cách quảng cáo cà phê vào buổi sáng sớm khi người tiêu dùng muốn rũ bỏ cơn ngái ngủ. Hay quảng cáo có thể tìm cách gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ về giá trị cá nhân hay lòng tự trọng. Hay có thể bổ sung thêm một tính chất quan trọng cho một sản phẩm ít cần để ý, chẳng hạn như bổ sung vitamin cho nước uống thường. Những chiến lược này khá lắm thì cũng làm cho người tiêu dùng để ý hơn từ mức thấp lên mức vừa phải thôi, chúng không thể thúc đẩy người tiêu dùng đến hành vi mua sắm có để ý nhiều.

 

Hành vi mua sắm tìm kiếm sự đa dạng

 

Một số tình huống mua sắm có đặc điểm là người tiêu dùng ít để ý, nhưng các nhãn hiệu khác nhau rất nhiều. Trong trường hợp này, ta thường thấy người tiêu dùng thay đổi nhãn hiệu rất nhiều lần. Lấy ví dụ trường hợp mua bánh bích quy. Người tiêu dùng có những niềm tin nào đó, chọn một nhãn hiệu bích quy mà không cần cân nhắc nhiều rồi khi tiêu dùng mới đánh giá nó. Nhưng lần sau người tiêu dùng đó có thể chọn nhãn hiệu khác một cách vô tư hay muốn kiếm một hương vị khác. Việc thay đổi nhãn hiệu chỉ là để tìm kiếm sự đa dạng chứ không phải vì không hài lòng.

 

Đối với loại sản phẩm này, chiến lược Marketing khác nhau đối với những nhãn hiệu dẫn đầu thị trường và những nhãn hiệu thứ yếu. Người dẫn đầu thị trường sẽ cố gắng khuyến khích hành vi mua sắm thông thường bằng cách khống chế phần lớn không gian trưng bày hàng, không để xảy ra trường hợp hết hàng dự trữ và bảo trợ việc quảng cáo nhắc nhở thường xuyên. Những công ty thách thức thì khuyến khích tìm kiếm sự đa dạng bằng cách chào giá thấp hơn, ký kết hợp đồng, phiếu tiền thưởng, đưa mẫu hàng miễn phí và quảng cáo trình bày những lý do nên thử những thứ mới.

 

Nghiên cứu quá trình thông qua quyết định mua sắm

 

Những công ty khôn ngoan sẽ nghiên cứu quá trình thông qua quyết định mua sắm đối với loại sản phẩm của mình. Họ sẽ hỏi người tiêu dùng xem họ đã làm quen với loại sản phẩm này và các nhãn hiệu từ khi nào, họ có niềm tin đối với nhãn hiệu nào, họ để ý đến sản phẩm như thế nào, họ lựa chọn nhãn hiệu ra sao và sau khi mua họ hài lòng như thế nào.

 

Đương nhiên là người tiêu dùng có những cách thức mua khác nhau đối với bất kỳ một sản phẩm nhất định nào. Khi mua một máy tính cá nhân, một số người tiêu dùng sẽ dành nhiều thời gian để tìm kiếm thông tin và so sánh; một số khác thì đi ngay đến cửa hàng máy tính và mua bất kỳ một nhãn hiệu nào được giới thiệu. Như vậy là có thể phân nhóm người tiêu dùng theo cách mua sắm, ví dụ những người mua có cân nhắc kỹ và người mua theo ngẫu hứng. Và cũng có thể áp dụng những chiến lược Marketing khác nhau đối với từng nhóm đó.

Làm thế nào những người làm Marketing lại có thể nhận ra những giai đoạn điển hình trong quá trình mua sắm một sản phẩm nhất định bất kỳ nào? Họ có thể tự suy xét về hành vi khả dĩ của bản thân mình (phương pháp tự suy xét). Họ có thể phỏng vấn một số ít người mua sắm hàng, đề nghị họ cho biết những điều gì đã dẫn họ đến chỗ mua hàng (phương pháp hồi tưởng). Họ có thể xác định những người tiêu dùng có ý định mua sản phẩm đó và đề nghị họ nói ra những suy nghĩ của mình về những bước thực hiện quá trình mua sắm sắp tới (phương pháp thăm dò). Hay họ có thể đề nghị người tiêu dùng mô tả cách mua sản phẩm lý tưởng (phương pháp mô tả). Mỗi phương pháp đều cho ta một bức tranh về các bước đi trong quá trình mua sắm của người tiêu dùng.

Các tin khác
LiveZilla Live Help

Trải qua những hiểm nguy, một tâm hồn quả cảm càng biểu lộ rõ




----------------------------------------
Truy cập 30 ngày trước : 7428
Số lượt truy cập : 891562