Sản phẩm Phần mềm chuẩn
  Vpar 2 CRM  
Download : 7066
Download : 23512
  Vpar 3 DB   Vpar 5 DB
  Vpar 4 DB   Vpar 6 DB
Phòng tiếp khách...
Miền Bắc: Mr Toàn Nguyễn Quốc Toàn:1963 – Tư vấn trường: 0989 991 996  Nguyễn Quốc Toàn:1963 – Tư vấn trường: 0989 991 996
 Mr Dũng – Tư vấn kỹ thuật: 01662 459 336  Mr Dũng – Tư vấn kỹ thuật: 01662 459 336 Mr Dũng  Dương Văn Điệp - Tư vấn quản lý: 0915 141 386 Dương Văn Điệp - Tư vấn quản lý: 915 141 386 Mr Điệp
 Mr Bình – 1980 - Tư vấn quản lý: 0936 199 394  Mr Bình – 1980 - Tư vấn quản lý: 0936 199 394 Mr Bình  Nguyễn Thị Bích Hằng - Tư vấn quản lý: 0908 158 319 Nguyễn Thị Bích Hằng - Tư vấn quản lý: 0908 158 319 Bích Hằng
 Nguyễn Thanh Tú - Tư vấn quản lý: 0984 961 747  Nguyễn Thanh Tú - Tư vấn quản lý: 0984 961 747 Mr Tú  Mss Hằng – Chuyên viên tư vấn Vpar: 0936 292 366 Mss Hằng – Chuyên viên tư vấn Vpar: 0936292366 Thúy Hằng
Miền Nam: Mr Thông Tư vấn Vpar Mr Thông - Tư vấn Vpar
 Tư vấn Vpar  My status Mr Khoa  Trần Hạ Vi My status Hạ Vi
 Nguyễn Ngọc Thu  Nguyễn Ngọc Thu Ngọc Thu  Võ Thúy Quanh Võ Thúy Quanh Thuy Quanh

1. Công ty CP Xúc tiến Thương mại Thanh niên VN/ Tổ chức sự kiện, xúc tiến thương mại

2. Công ty TNHH Thiết bị Văn phòng Á Châu/ Thiết bị văn phòng

3. Công ty CP Báo cáo Đánh giá Việt Nam/ Tư vấn, nghiên cứu quản lý thị trường

4. Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Khương & Lê/ Mỹ phẩm Menard

5. Công ty CP Kinh Doanh Nhà Hoàng Hải/ Bất động sản

6. Công ty Gỗ Đức Thành / Nội thất bàn ghế

7. Công ty TNHH Thiết bị tự động Mỹ Á/ Thiết bị tự động

8. Công ty TNHH Thiên Nhẫn/ Phụ tùng ô tô xe máy

9. Công ty CP Quốc tế Việt Hàn/ Phụ tùng ô tô

10. Công ty CP Đầu tư phát triển Công nghệ Thời Đại Mới (MEGABUY)/ Thương mại điện tử (buôn bán các lại thiết bị qua mạng)

11. Công ty CP Y tế Đức Minh (AMV)/ Dược phẩm, tiêm phòng vacxin

12. Công ty TNHH TM và Đầu tư Phát triển Công nghệ (TECHPRO)/ Máy tính công nghiệp, tự động hóa & điều khiển, hệ thống an ninh - giám sát

13. Báo Nhịp cầu Đầu tư/ Báo chí

14. Công ty CP Đầu tư Phát triển Giáo dục & DL Sinh thái / Tư vấn, đào tạo

15. Công ty TNHH Nhất Bình/ Cơ khí

16. Công ty CP Tầm nhìn Tiến bộ Đại Nam (Avizone)/ Quảng cáo, quà tặng

17. Công ty TNHH Diệt mối & Khử trùng Hà Nội/ Diệt mối, khử trùng

18. TT Tổ chức hội nghị & DL chất lượng cao quốc tế (Golden Tour)/ Du lịch

19. Công ty Phát triển DL Ngôi Sao Mới (New Star Tour)

20. Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ kỹ thuật TESCO/ Phụ tùng ô tô

21. Công ty NAPROPHARM.,JSC/ Dược

22. Công ty Thiết bị Y tế Anh Khoa/ Thiết bị y tế

23. Công ty Địa ốc Nam Long/ Địa ốc, xây dựng

24. Công ty TNHH TM & DV MKY/ Kinh doanh thiết bị ngành ảnh

25. Công ty Thiết kế nội thất MT/ Thiết kế nội thất

26. Công ty TNHH Việt Mỹ 1 – ĐN/ Bồn tắm

27. Công ty TNHH Khánh An

28. Công ty TNHH Thiên Hòa/ Điện máy

29. Công ty TNHH Hoàng Long/ Máy tính

30. Công ty TNHH Saki/ Máy & Thiết bị xây dựng

31. Công ty Cảng Hàng Không Miền Nam/ Cảng hàng không

32. Công ty TNHH Bột Mì Trung Nam/ Bột mì

33. Công ty TNHH Kính Tiên/ Kính

34. Công ty TNHH Imeco/ Thiết bị ô tô

35. Công ty THHH Hưng Thịnh/ Địa ốc

36. Công ty CP Giao nhận Vận tải Ngoại thương Hà Nội (Vinatrans)/ Giao nhận, vận chuyển

37. Công ty CP Thiết bị ngành nước & xây dựng Hà Nội/ Thiết bị ngành nước

38. Công ty TNHH Kim Quang/ Thiết bị cơ khí

39. Công ty TNHH Tín Đức. Thiết bị định vị vệ tinh, ống nhòm, bộ đàm

40. Công ty TNHH Tân Sao Mai/ Tư vấn đầu tư

41. Công ty TNHH Rinki Việt Nam/ Thiết bị điều hòa không khí, thang máy

42. Công ty TNHH Hải Sơn/ Thiết bị

43. Công ty CP Tôn Hiệp Hưng/ Sản xuất tôn

44. Công ty CP Anh Thăng/ Thiết bị phun nước

45. Công ty CP Địa ốc Đất xanh/ Xuất nhập khẩu khoáng sản

46. Công ty TNHH Điện thoại Vân Chung/ Điện thoại, tổng đài, máy fax,

47. Trung tâm Thương mại Du lịch Quốc tế Thăng Long/ Du lịch, dịch vụ

48. Công ty TNHH Thiết bị khoa học Việt Anh/ Thiết bị y tế

49. Công ty TNHH Lê Trường/ Phụ tùng ôtô

50. Công ty TNHH Hệ thống công nghiệp Việt Nam/ Thiết bị điện công nghiệp

51. Công ty CP Lâm sản Bắc Á/ Xuất nhập khẩu khoáng sản

52. Công ty TNHH Thiết bị Minh Tâm / Thiết bị y tế

53. Công ty TNHH SunMedia/ Thiết bị Viễn thông

54. Công ty TNHH Sơn Nguyễn/ Xây dựng, thiết kế

55. Công ty TNHH An Binh/ Vận chuyển, kho bãi

56. Công ty TNHH Hoàng Mỹ/ Du lịch

57. Công ty TNHH FuturOne/ Ô tô

58. Công ty TNHH Sadaco/ Ô tô

59. Công ty DIC/ Vật liệu xây dựng

60. Công ty BDC/ Hội thảo sự kiện

61. Công Ty Bảo Tín / Máy móc, thiết bị ngành in

62. Công ty CP Truyền Thông Đa Phương Tiện Việt Nam/ Thiết kế website, quảng cáo Internet, CNTT

63. Công ty CP Thương mại Thái Bình Dương/ May mặc

64. Công ty TNHH Thương mại Hoàng Anh/ Nước - vật tư thiết bị dịch vụ

65. Công ty TNHH Ca An/ Giấy in

66. Công ty Ôtô Huyndai Giải Phóng /Ô tô

67. Công ty Cổ phần đầu tư An Phát/ Thiết bị ngành nước, điện tử, điện lạnh

68. Công ty TNHH Hệ thống tự động Sơn Hà/ Cửa cuốn tự động

69. Công ty CP SNC/ Dây đồng trần, hạt nhựa PVC và hạt PP

70. Chi nhánh Công ty TNHH Công nghiệp Việt Thái/ Giấy ăn, giấy vệ sinh

71. Công ty TNHH Kính Nghệ Thuận ARTGLASS/ Mắt Kính

72. Công ty CP Thế giới bơm/ Bơm

73. Công ty TNHH Thiết bị máy móc Đại Chính Quang/ Máy móc công nghiệp

74. Công Ty CP Thanh Hà/ Phân bón

75. Công ty TNHH Việt Tiến/ Phân bón

76. Công ty Thương mại Vật tư Khoa học Kỹ thuật/ Thiết bị y tế

77. Công ty TNHH Thế hệ mới/ Kinh doanh, xuất khẩu trà

78. Công ty TNHH Thương mại quốc tế Liên Á/ Thiết bị điện

79. Công ty TNHH Thương mại & Sản xuất Thanh Ngân/ Thiết bị văn phòng

80. Công ty An Dân (Gami Group)/ Ô tô

81. Công ty An Hưng (Gami Group)/ Cho thuê ô tô

82. Công ty An Phú Hưng (Gami Group)/ Nội thất

83. Công ty TNHH Phát triển Công nghệ môi trường Lâm Nguyễn/ Máy lọc nước

84. Công ty TNHH Dịch vụ giao nhận AAAS/ Dịch vụ giao nhận

85. Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Nam An/ Bất động sản, nhà đất

86. Công ty CP Dệt Kim Đông Phương/ Sản xuất, kinh doanh hàng may mặc

87. Công ty CP Thiết bị Y tế Hồng Thiện Mỹ/ Thiết bị y tế

88. Công ty ahead/ Tư vấn, đầu tư

89. Công ty FPT/ Phần mềm, công nghệ thông tin

90. Công ty Tân Bảo/ Thiết bị camera

91. Công ty Phương Anh/ Thiết bị điện, chiếu sáng

92. Công ty quảng cáo Bút Việt/ Truyền thông, quảng cáo

93. Công ty máy tính Ben / Máy tính

94. Công ty tư vấn chiến lược SAG/ Quà tặng

95. Công ty CP quảng cáo hội chợ thương mại Việt Mỹ (VTNATAPS)/ Quảng cáo, tổ chức hội chợ

96. Công ty kho vận Miền Nam (SOTRANS)/ Giao nhận hàng hoá

97. Công ty kỹ nghệ súc sản Visan Việt Nam/ Thực phẩm đã chế biến

98. Công ty TNHH Phong Châu/ Thủ công mỹ nghệ

99. Công ty Cổ phần công nghiệp Tự Cường/ Kinh doanh cáp điện

100. Công ty Dược Bách Thảo/ Dược phẩm

101. Công ty TNHH Việt Phan/ Thiết bị y tế

102. Công ty Cổ phần vật tư kỹ thuật & vận tải ô tô/ Vận tải, cung cấp phụ tùng , thiết bị

103. Công ty TNHH Hoàn Mỹ/ Thiết bị vệ sinh

104. Công ty Cổ phần B4/ Kinh doanh điện tử, điện lạnh

105. Công ty xây dựng và phát triển thương mại Bắc Nam/ Kinh doanh bất động sản, xe gắn máy

106. Công ty thương mại và công nghiệp ô tô/ Điện lạnh & Tủ lạnh, thiết bị, phụ tùng

107. Công ty Cổ phần thương mại CITICOM/ Kinh doanh thép

108. Công ty TM – DV kỹ thuật điện Đoan Khanh/ Thương mại , dịch vụ điện

109. Công ty Cổ phần sáng tạo công nghiệp/ Tư vấn, dịch vụ, thương mại

110. Công ty TNHH nhựa Hoàng Hà/ Nhựa

111. Công ty TNHH Tana/ Dịch vụ viễn thông

112. Công ty máy tính Phương Thịnh/ Thương mại, dịch vụ máy tính

113. Công ty thương mại Tùng Lâm/ Thương mại, sản xuất, phân phối mạng

114. Công ty thương mại và du lịch Mỹ Minh/ Du lịch dịch vụ , cho thuê xe

115. Công ty thiết bị Việt Nhật/ Thương mại

116. Công ty tự động hoá A&E/ Thương mại, sản xuất, phân phối mạng

117. Công ty thang máy Thiên Nam/ Thang máy

118. Công ty dịch vụ và vận tải T&S/ Dịch vụ vận tải

119. Công ty Sông Nhuệ dược phẩm / Dược phẩm

120. Công ty Cổ phần truyền hình cáp Mẫu Sơn/ Truyền hình cáp

121. Công ty TNHH Sản xuất và thương mại Việt Phát/ Nước uống: sản suất, thương mại

122. Công ty Tin học tự động hoá và phần mềm Ánh sáng Lígh soft/ Phần mềm

123. Công ty Cầu trục và thiết bị AVC/ Thiết bị, cầu trục

124. Công ty TNHH tự động hoá OMINA/ Tự động hóa

125. Công ty TNHH dây và cáp Điện Ngọc Khánh/ Cáp điện

126. Công ty Xuất nhập khẩu Nam Đô/ Phân phối mạng

127. Thời báo kinh tế Việt Nam/ Báo chí, tổ chức sự kiện

128. Công ty sơn Asee Việt Nam/ Sơn

129. Câu lạc bộ doanh nghiệp Việt Nam/ Hiệp hội, báo chí, tổ chức sự kiện

130. Công ty Việt Nhật thiết bị y tế/ Thương mại

131. Công ty tư vấn chuyển giao công nghệ Việt Anh/ Tư vấn, dịch vụ, thương mại

132. Công ty TNHH Phong Nam/ Nhựa: Sản xuất, thương mại

133. Công ty An dân/ Thương mại, dịch vụ ( ô tô )

134. Công ty TNHH Nhật Thắng/ Mây tre: Sản xuất thương mại

135. Công ty TNHH dược phẩm An Vượng/ Dược phẩm: Sản xuất thương mại

136. Công ty Cáp thép/ Thép: Thương mại và dịch vụ

137. Công ty TNHH TM - DV - XD điện và tự động hoá ACE/ Tự dộng hoá các trang thiết bị điện

138. Công ty TNHH vật tư thiết bị điện Tuyết Cường/ Tự động hoá hệ thống trang thiết bị

139. Công ty điện thoại Việt Nam VIETPHONE/ Giải pháp viễn thông - An ninh - điện tử

140. Công ty TNHH Ngọc Linh/ Thẻ, Thiết bị hàn,Thiết bị công nghiệp:

141. Công ty TNHH quốc tế D&N/ Tư vấn, dịch vụ luật

142. Công ty thiết bị phụ tùng An Phát/ Cơ khí: Sản xuất, gia công

143. Công ty TNHH Nam Cường/ Máy móc: Sản xuất, lắp ráp

144. Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Viêt Nam - Nhật Bản/ Tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực

145. Công ty phát triển kỹ thuật và thương mại/ Sản xuất, thương mại, dịch vụ

146. Công ty Đất Xanh/ Kinh doanh phát triển dự án

147. Trung Tâm Kinh Doanh Bất Động Sản InTresCo/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

148. Công ty Địa Ốc Khang Gia/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án, cho thuê

149. Công ty CP Phát Triển Nam Sài Gòn (SaDeCo)/ Kinh doanh phát triển dự án

150. Công ty Danh Khôi/ Kinh doanh & môi giới bất động sản

151. Công ty CP Kinh Doanh & Phát triển Bình Dương (Becamex TDC)/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

152. Công ty Địa Ốc Phú Long/ Đầu tư, kinh doanh bất động sản, dự án

153. Công ty CP Địa Ốc Hưng Phú/ Kinh doanh bất động sản

154. Công ty cổ phần báo cáo đánh giá Việt Nam

155. Công ty cổ phần công nghệ tin học Cuộc Sống Việt

156. Công ty Cổ Phần Đầu Tư TOPCOM

157. CÔNG TY CỔ PHẦN HANELMIROLIN

158. Công ty Cổ Phần H-PEC Việt Nam

159. Công ty Cổ phần Quản lý Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Nam

160. Công ty cổ phần Sinh học và Y học tái tạo FBM

161. Công ty Hà Nội TC

162. Công ty Máy Tính Phúc Anh

163. Công ty TNHH Điện lạnh, điện máy Việt Úc

164. Công ty TNHH Hatuba

165. Công ty TNHH Luật & Tư vấn Đầu tư Incip

166. Công ty TNHH Nam Cường

167. Công ty TNHH Quốc tế D&N

168. Công ty TNHH TBMM Đại Chính Quang

169. CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ GTVT

170. CÔNG TY TNHH TÍN ĐỨC

171. Công ty TNHH TM Việt Thái Sinh

172. Trung tâm Anh ngữ English Hanoi

173. Công ty Cổ phần công nghệ liên kết truyền thông

174. Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Châu Á

175. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HỒNG PHÁT

176. Công ty cổ phần Sinh học và Y học tái tạo FBM

177. Công ty cổ phần thời trang Chương

178. Công ty CP Viễn Thông Tin Học STAPHONE

179. Công ty TNHH Hatuba

180. Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Phương Linh

181. Trung tâm Anh ngữ English Hanoi

182. Công Ty Cao Su Phú Việt


Chiến lược sản phẩm và dịch vụ (phần 4)

Phát triển và thử nghiệm quan niệm

 

Những ý tưởng hấp dẫn phải được xác định chi tiết thành những quan niệm về sản phẩm có thể thử nghiệm được. Ta có thể phân biệt ý tưởng sản phẩm, quan niệm sản phẩm và hình ảnh sản phẩm. ý tưởng sản phẩm là một sản phẩm có thể có mà Công ty có thể cung ứng cho thị trường. Quan niệm sản phẩm là một cách giải thích ý tưởng bằng ngôn ngữ mà người tiêu dùng hiểu được. Hình ảnh sản phẩm là bức tranh cụ thể của một sản phẩm thực tế hay tiềm ẩn mà người tiêu dùng có được.

 

Hoạch định chiến lược Marketing cho sản phẩm mới

 

Bây giờ người quản trị sản phẩm mới phải hoạch định một chiến lược Marketing để tung sản phẩm đó ra thị trường. Chiến lược Marketing này sẽ được xác định chi tiết hơn trong những giai đoạn tiếp sau.

 

Kế hoạch chiến lược Marketing gồm ba phần. Phần thứ nhất mô tả quy mô, cơ cấu và hành vi của thị trường mục tiêu, dự kiến định vị của sản phẩm, mức tiêu thụ và thị phần, các chỉ tiêu lợi nhuận dự kiến trong một vài năm đầu tiên.

 

Phần thứ ba của kế hoạch Marketing trình bày chỉ tiêu mức tiêu thụ và lợi nhuận lâu dài và chiến lược Marketing mix theo thời gian.

 

Phân tích tình hình kinh doanh

 

Sau khi ban lãnh đạo đã xây dựng được quan niệm sản phẩm và chiến lược Marketing thì họ có thể đánh giá tính hấp dẫn của dự án kinh doanh. Ban lãnh đạo cần chuẩn bị những dự đoán về mức tiêu thụ, chi phí và lợi nhuận để xác định xem chúng có thoả mãn những mục tiêu của Công ty hay không. Nếu chúng thoả mãn, thì quan niệm sản phẩm đó sẽ được chuyển sang giai đoạn phát triển sản phẩm. Khi có những thông tin mới thì tiến hành phân tích lại tình hình kinh doanh.

Ước tính mức tiêu thụ

 

Ban lãnh đạo cần ước tính xem mức tiêu thụ có đủ lớn để đem lại lợi nhuận thoả đáng không. Phương pháp ước tính mức tiêu thụ phụ thuộc vào chỗ sản phẩm đó là sản phẩm mua một lần, sản phẩm mua thường xuyên hay sản phẩm mua không thường xuyên. Mức tiêu thụ lúc đầu tăng, đạt tới đỉnh cao, rồi sau đó tiến dần đến không khi số người mua tiềm ẩn đã cạn kiệt. Nếu vẫn có những người mua mới tham gia thị trường thì đường cong sẽ không tiến đến số không

Ước tính mức tiêu thụ lần đầu

 

Nhiệm vụ đầu tiên là xác định khối lượng mua lần đầu sản phẩm mới đó trong từng thời kỳ.

 

Ước tính mức tiêu thụ thay thế

 

Để ước tính mức tiêu thụ thay thế, ban lãnh đạo phải nghiên cứu phân bố tuổi thọ sản phẩm của mình. Mức thấp của phân bố này chỉ khi bắt đầu có mức tiêu thụ thay thế. Thời điểm thay thế thực tế còn chịu ảnh hưởng của quan điểm kinh tế của khách hàng, tình hình thu chi và các phương án sản phẩm cũng như giá cả, điều kiện tài trợ và nỗ lực bán hàng của Công ty. Vì rất khó xác định mức tiêu thụ thay thế trước khi sản phẩm được sử dụng thực tế, một số hãng sản xuất dựa trên cơ sở ước tính mức tiêu thụ lần đầu để quyết định việc tung ra chỉ một sản phẩm mới.

 

Ước tính mức tiêu thụ lặp lại

 

Đối với sản phẩm mới mua thường xuyên người bán phải ước tính mức tiêu thụ lặp lại cũng như mức tiêu thụ lần đầu. Chính là vì giá trị đơn vị của sản phẩm mua thường xuyên thấp nên chỉ sau khi tung ra thị trường một ít lâu là đã có trường hợp mua lặp lại. Mức mua lặp lại cao có nghĩa là khách hàng hài lòng, mức tiêu thụ có thể vẫn cao ngay cả sau khi tất cả mọi người đã mua lần đầu. Người bán phải theo dõi tỷ lệ phần trăm trường hợp mua lặp lại xảy ra trong từng lớp mua lặp lại: Những người mua lặp lại một lần, hai lần, ba lần, v.v... Có một số sản phẩm và nhãn hiệu được mua một vài lần rồi thôi. Điều quan trọng là phải ước tính xem tỷ lệ mua lặp lại có thể tăng hay giảm, và với mức độ như thế nào đối với những lớp mua lặp lại nhiều hơn.

 

Ước tính chi phí và lợi nhuận

 

Sau khi chuẩn bị dự báo mức tiêu thụ, ban lãnh đạo có thể ước tính chi phí và lợi nhuận dự kiến của vụ kinh doanh này. Chi phí do các phòng nghiên cứu và phát triển, sản xuất, Marketing và tài chính ước tính.

 

Các Công ty sử dụng những số liệu tài chính để đánh giá giá trị của đề án sản phẩm mới. Đơn giản nhất là phân tích điểm hoà vốn, trong đó ban lãnh đạo đánh giá xem Công ty phải bán được bao nhiêu đơn vị sản phẩm đó thì mới hoà vốn, với giá và cơ cấu chi phí đã định. Nếu ban lãnh đạo tin chắc rằng Công ty có thể dễ dàng đạt được số lượng để hoà vốn, thì thường nó sẽ để cho tiếp tục chuyển đề án sang giai đoạn phát triển sản phẩm.

 

Phương pháp phức tạp nhất là phân tích rủi ro. Ở đây ba kết quả ước tính (lạc quan, bi quan và nhiều khả năng nhất) thu được đối với từng biến không chắc chăn, có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của môi trường Marketing đã giả thiết và chiến lược Marketing đã định trong kỳ kế hoạch. Máy tính mô phỏng các kết quả khả dĩ và tính toán phân phối xác suất của tỷ suất lợi nhuận, thể hiện khoảng tỷ suất lợi nhuận có thể đạt được và xác suất của chúng.

 

Phát triển sản phẩm và thử nghiệm trên thị trường.

 

Nếu quan niệm sản phẩm đó qua được thử nghiệm kinh doanh thì nó sẽ đi tiếp sang giai đoạn nghiên cứu và phát triển và/hay thiết kế kỹ thuật để phát triển thành sản phẩm vật chất. Cho đến lúc này nó mới chỉ ở dạng mô tả bằng lời, một hình vẽ hay mô hình phác thảo. Bước này đòi hỏi phải có một sự nhảy vọt về vốn đầu tư, số tiền cần thiết sẽ lớn gấp bội so với chi phí đánh giá ý tưởng phát sinh trong những giai đoạn trước. Giai đoạn này sẽ trả lời ý tưởng sản phẩm đó, xét về mặt kỹ thuật và thương mại, có thể biến thành một sản phẩm khả thi không. Nếu không, thì những chi phí tích luỹ của đề án mà Công ty đã chi ra sẽ mất trắng, chỉ trừ những thông tin hữu ích đã thu được trong quá trình đó.

 

Phòng nghiên cứu và phát triển sẽ phát triển một hay nhiều dạng mẫu vật chất của quan niệm sản phẩm. Họ hy vọng rằng, sẽ tìm được một nguyên mẫu mà người tiêu dùng thấy rằng nó có đủ những thuộc tính then chốt được mô tả trong quan niệm sản phẩm, hoạt động an toàn trong điều kiện sử dụng bình thường, và có thể sản xuất trong phạm vi chi phí sản xuất đã dự toán.

 

Việc phát triển được một nguyên mẫu thành công phải mất nhiều ngày, tuần, tháng, thậm chí nhiều năm. Việc thiết kế một máy bay thương mại mới sẽ chiếm mất vài năm của công tác phát triển. Ngay cả việc phát triển công thức có hương vị mới cũng có thể mất thời gian. Ví dụ, chi nhánh Maxell House của General Foods phát hiện ra rằng người tiêu dùng muốn có một nhãn hiệu cà phê với "hương vị đậm đà, mạnh mẽ". Các kỹ thuật viên hoá nghiệm của Công ty đã mất bốn tháng để nghiên cứu pha chế các thành phần cà phê khác nhau có hương vị khác nhau để tạo ra một hương vị thích hợp. Song việc sản xuất ra thứ cà phê khác nhau có hương vị khác nhau để tạo ra một hương vị thích hợp. Song việc sản xuất ra thứ cà phê đó quá tốn kém và Công ty đã cắt giảm chi phí cho hỗn hợp đó để đảm bảo chỉ tiêu chi phí sản xuất. Tuy nhiên, việc thay đổi đó đã làm ảnh hưởng đến hương vị và nhãn hiệu cà phê mới không được tiêu thụ mạnh trên thị trường.

 

Việc thử nghiệm với người tiêu dùng có thể thực hiện theo một số hình thức khác nhau, từ việc đưa người tiêu dùng đến phòng thí nghiệm đến việc cho họ mẫu hàng đem về nhà dùng thử. Việc thử nghiệm sản phẩm tại nhà được áp dụng phổ biến đối với những sản phẩm khác nhau, từ hương vị kem đến những thiết bị mới. Khi hãng Du Pont phát triển loại thảm mới bằng vật liệu tổng hợp, Công ty đã cung cấp thảm miễn phí để trải sàn ở một số nhà với điều kiện là chủ nhà sẵn sàng cho nhận xét về những điểm thích và không thích đối với thảm tổng hợp. Việc trắc nghiệm sở thích của người tiêu dùng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, như xếp hạng, so sánh từng cặp, và cho điểm, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó.

 

Không phải Công ty nào cũng chọn con đường thử nghiệm trên thị trường. Có một quan chức của Công ty Revlon, Inc.., đã phát biểu như sau:

 

Trong lĩnh vực của chúng tôi, chủ yếu là mỹ phẩm giá cao, không phân phối đại trà, không cần thiết phải thử nghiệm trên thị trường. Khi chúng tôi phát triển một sản phẩm đã quen thuộc với lĩnh vực này. Và chúng tôi đã có 1.500 trình diễn viên ở các cửa hàng bách hoá tổng hợp để khuếch trương nó.

 

Tuy nhiên, hầu hết các Công ty đều biết việc thử nghiệm trên thị trường có thể cung cấp những thông tin có giá trị về người mua, các đại lý, hiệu quả của chương trình Marketing, tiềm năng của thị trường và nhiều vấn đề khác. Những vấn đề chính là sẽ thử nghiệm trên thị trường bao nhiêu lần và cách thử nghiệm như thế nào?

 

Số lượng thử nghiệm trên thị trường chịu ảnh hưởng một bên là chi phí và rủi ro của vốn đầu tư, và một bên là sức ép thời gian và chi phí nghiên cứu. Những sản phẩm có vốn đầu tư rủi ro cao cần được thử nghiệm trên thị trường tới mức độ đủ để không phạm sai lầm; chi phí thử nghiệm trên thị trường sẽ bằng một tỷ lệ phần trăm không đáng kể trong tổng chi phí của dự án. Những sản phẩm có rủi ro lớn, tức là những sản phẩm tạo ra những loại sản phẩm mới (bữa ăn sáng liền đầu tiên) hay có những tính chất mới (thuộc đánh răng đầu tiên có chứa fluoride) cần được thử nghiệm trên thị trường nhiều hơn những sản phẩm cải tiến (nhãn hiệu thuốc đánh răng khác). Nhưng số lượng thử nghiệm trên thị trường có thể giảm đi một chừng mực nào đó nếu cong ty đang bị sức ép về thời gian vì thời vụ đã bắt đầu hay vì các đối thủ cạnh tranh sẽ tung ra những nhãn hiệu của mình. Vì vậy công ty có thể chấp nhận rủi ro sản phẩm bị thất bại hơn là rủi ro mất khả năng phân phối hay xâm nhập thị trường với một sản phẩm chắc chắn thành công. Chi phí thử nghiệm trên thị trường cũng chịu ảnh hưởng của số lượng thử nghiệm và loại sản phẩm gì.

 

Thương mại hóa

 

Thử nghiệm trên thị trường có lẽ đã cung cấp đủ thông tin để ban lãnh đạo quyết định xem xét các sản phẩm mới ra không. Nếu Công ty tiếp tục thương mại hoá thì nó phải chịu những chi phí lớn nhất từ trước đến giờ. Công ty sẽ phải ký hợp đồng sản xuất hay xây dựng hoặc một cơ sở sản xuất có quy mô tương xứng. quy mô của nhà máy là một biến cực kỳ quan trọng của quyết định. Công ty có thể xây dựng một nhà máy nhỏ hơn so với yêu cầu của dự báo mức tiêu thụ để cho an toàn hơn.

 

Thời điểm (trả lời câu hỏi Khi nào?)

 

Trong việc thương mại hoá một sản phẩm mới, thời điểm tung ra thị trường có thể là cực kỳ quan trọng. giả sử, một Công ty hầu như đã hoàn tất việc phát triển một sản phẩm mới và nghe nó có một đối thủ cạnh tranh sắp kết thúc việc phát triển sản phẩm của mình. Công ty phải đứng trước ba cách lựa chọn:

 

1. Tung ra thị trường trước tiên: Công ty tham gia thị trường đầu tiên thường có được "ưu thế của người chủ động" là nắm chắc được những người phân phối và khách hàng chủ chốt và giành được vị trí dẫn đầu về tiếng tăm. Kết quả nghiên cứu của A.Mc Kinsey cho thấy rằng, người đầu tiên tung sản phẩm mới ra thị trường, cho dù phải chi vượt ngân sách, vẫn tốt hơn là người đến muộn hơn, nhưng đảm bảo ngân sách. Mặt khác, nếu sản phẩm đó được tung ra thị trường trước khi chi hết ngân sách, thì sản phẩm đó có thể có một hình ảnh không hoàn mỹ.

 

2. Tung ra thị trường đồng thời: Công ty có thể xác định thời điểm tung ra thị trường đồng thời với đối thủ cạnh tranh đó. Nếu đối thủ cạnh tranh vội vã tung ra thị trường thì Công ty cũng làm như vậy. Nếu đối thủ cạnh tranh tranh thủ thơi gian, thì Công ty cũng tranh thủ thời gian, làm thêm giờ để hoàn thiện sản phẩm của mình. Công ty có thể muốn cả hai cùng gánh chịu chi phí quảng cáo về việc tung sản phẩm mới.

 

3. Tung ra thị trường muộn hơn: Công ty có thể hoãn tung sản phẩm của mình ra thị trường cho đến khi đối thủ cạnh tranh đã xâm nhập thị trường. Trong trường hợp này có ba lợi thế tiềm ẩn. Đối thủ cạnh tranh sẽ phải gánh chi phí đào tạo thị trường. Sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có thể bộc lộ những thiếu sót mà người đi sau có thể tránh. Công ty có thể biết được quy mô của thị trường. Ví dụ, công ty EMI của Anh là người đi tiên phong về kỹ thuật quét cắt lát bằng máy tính, nhưng GE đã giành mất thị trường, bởi vì nó hoàn hảo hơn rất nhiều về năng lực sản xuất và mạnh hơn nhiều về phân phối cho các bệnh việc.

 

Quyết định thời điểm có liên quan đến những vấn đề phụ kèm theo. Nếu sản phẩm mới thay thế một sản phẩm cũ của công ty, thì Công ty có thể hoãn việc tung ra thị trường cho đến khi tiêu thụ hết số sản phẩm cũ còn tồn kho. Nếu sản phẩm có tính thời vụ cao thì có thể giữ lại cho đến đúng thời vụ của nó. Tóm lại, cần phải suy nghĩ kỹ về thời điểm tung ra thị trường.

 

Khu vực thị trường (trả lời câu hỏi ở đâu?)

 

Công ty sẽ phải quyết định tung sản phẩm mới ra tại một địa bàn, một khu vực, nhiều khu vực hay thị trường toàn quốc, thị trường quốc tế. Có một số Công ty có đủ lòng tin, vốn, và năng lực để tung sản phẩm mới ra thị trường toàn quốc hay toàn cầu. Họ sẽ xây dựng kế hoạch chiếm lĩnh thị trường theo thời gian. Những công ty nhỏ thì chọn lấy một thành phố hấp dẫn và mở một chiến dịch chớp nhoáng để xâm nhập thị trường. Họ cũng xâm nhập các thành phố khác dần dần, mỗi lần một thành phố. Những Công ty lớn thì từng sản phẩm ra toàn bộ khu vực rồi sau đó chuyển sang khu vực tiếp sau. Những công ty có mạng lưới phân phối toàn quốc như các hãng ô tô chẳng hạn sẽ tung model sản phẩm mới của mình trên thị trường cả nước.

 

Khi áp dụng Marketing vết dầu loang Công ty phải đánh giá mức độ hấp dẫn của các thị trường. Các thị trường dự kiến có thể liệt kê thành hàng, hay thành cột theo tiêu chuẩn mức độ hấp dẫn. Những tiêu chuẩn xếp hạng chủ yếu là tiềm năng của thị trường, danh tiếng địa phương của Công ty, chi phí thiết lập kênh thông tin, chi phí về các phương tiện truyền thông, ảnh hưởng của các khu vực đó đối với các khu vực khách, và tình hình cạnh tranh. Bằng cách này Công ty xếp thứ tự được những thị trường hàng đầu và xây dựng một kế hoạch chiếm lĩnh dần từng địa bàn.

 

Những khách hàng triển vọng của thị trường mục tiêu (Cho ai?)

 

Trong phạm vi những thị trường lấn chiếm, Công ty phải hướng mục tiêu phân phối và khuyến mãi của mình vào những nhóm khách hàng triển vọng quan trọng nhất. Những khách hàng triển vọng hàng đầu đối với một sản phẩm tiêu dùng mới, trong trường hợp lý tưởng, phải có những đặc điểm sau: Họ phải là những người chấp nhận sản phẩm sớm, sử dụng nhiều, hướng dẫn dư luận và có thể đạt được chi phí thấp. Có một vài nhóm có đầy đủ tất cả những đặc điểm này. Căn cứ vào những đặc điểm vừa nêu, Công ty có thể xếp hạng các nhóm khách hàng triển vọng khác nhau rồi chọn nhóm tốt nhất làm mục tiêu. Mục đích là tạo ra được mức tiêu thụ mạnh càng sớm càng tốt để động viên lực luợng bán hàng và thu hút thêm những khách hàng triển vọng khác.

 

Nhiều công ty đã ngạc nhiên khi biết được ai thực sự đã mua sản phẩm của mình và vì sao. Lò vi ba chỉ phát triển nhảy vọt sau khi bỏng ngô rang bằng lò vi ba phát triển. Những người sớm chấp nhận đầu máy video đã bị thu hút bởi cơ hội xem phim ảnh khiêu dâm.

 

Chiến lược tung ra thị trường (Làm như thế nào?)

 

Công ty phải xây dựng một kế hoạch hành động để tung sản phẩm mới ra những thị trường lấn chiếm. Ví dụ:

 

Vào tháng Năm năm 1986 hãng Polaroid đã tung ra máy ảnh cho hình ngay spectra với ngân sách quảng cáo trong năm đầu tiên là 40 triệu USD. Các panô quảng cáo được dựng tại 25 thị trường như là một phần của chiến dịch chọc ghẹo, rồi tiếp đến là một chiến dịch ấn phẩm và truyền hình dồn dập nhằm làm cho 90% công chúng mục tiêu của Spectra phải xem tới 25 lần.

 

Để sắp xếp trình tự và phối hợp nhiều hoạt động liên quan đến việc tung sản phẩm mới ra thị trường, ban lãnh đạo có thể dùng phương pháp sơ đồ mạng như phương pháp đường tới hạn.

 

Quá trình chấp nhận của người tiêu dùng

 

Quá trình chấp nhận của người tiêu dùng bắt đầu từ chỗ quá trình đổi mới của Công ty chấm dứt. Nó mô tả cách thức khách hàng tiềm ẩn tìm hiểu về sản phẩm mới, dùng thử nó và chấp nhận hay từ chối nó. Ban lãnh đạo phải hiểu được quá trình này để xây dựng một chiến lược hiệu quả nhằm xâm nhập sớm thị trường. Tiếp sau quá trình chấp nhận của người tiêu dùng là qúa trình trung thành của người tiêu dùng, một mối quan tâm của nhà sản xuất đã ổn định.

 

Cách đây nhiều năm, những người làm Marketing sản phẩm mới đã sử dụng phương thức tiếp cận thị trường đại trà để tung sản phẩm của mình ra. Họ phân phối sản phẩm đi khắp mọi nơi và quảng cáo cho tất cả mọi người với giả thiết là hầu hết mọi người đều là những người mua tiềm ẩn. Phương thức tiếp cận thị trường đại trà, tuy vậy, cũng có hai nhược điểm: Nó đòi hỏi chi phí marekting lớn và có nhiều trường hợp quảng cáo lãng phí cho những người không phải là tiêu dùng tiềm ẩn. Những nhược điểm này đã dẫn đến một phương thức tiếp cận thứ hai là Marketing mục tiêu người sử dụng nhiều, theo đó lúc đầu sản phẩm được hướng vào những người sử dụng nhiều. Phương thức này chỉ có nghĩa khi những người sử dụng nhiều có thể dễ phát hiện được và là những người sớm chấp nhận. Nhưng ngay cả trong nhóm người sử dụng nhiều, người tiêu dùng cũng có mức độ quan tâm đến sản phẩm và nhãn hiệu mới khác nhau. Nhiều người sử dụng nhiều trung thành với những nhãn hiệu hiện có. Hiện nay nhiều người làm Marketing sản phẩm mới hướng vào những người tiêu dùng nào là những người sớm chấp nhận. Theo lý thuyết người sớm chấp nhận:

 

+ Những người trong một thị trường mục tiêu khác nhau về khoảng thời gian ngăn cách giữa lúc họ nhìn thấy sản phẩm mới và lúc họ dùng thử chúng/

 

+ Những người sớm chấp nhận có chung một đặc điểm phân biệt họ với những người chấp nhận muộn.

 

+ Có những phương tiện truyền thông có hiệu quả để truyền tới những người sớm chấp nhận.

 

+ Những người sớm chấp nhận có xu hướng trở thành những người hướng dẫn dư luận và có lợi cho việc quảng cáo sản phẩm mới đối với những người mua tiềm ẩn khác.

 

Bây giờ ta chuyển sang lý thuyết về sự lan truyền đối với sự chấp nhận của người tiêu dùng, một lý thuyết cung cấp những manh mối để phát hiện ra những người sớm chấp nhận.

 

Những quan điểm về đổi mới. Lan truyền và chấp nhận

 

Sự đổi mới có nghĩa là mọi hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng được một ai đó nhận thức là mới. ý tưởng có thể đã có từ lâu rồi, nhưng nó lại là một sự đổi mới đối với người thấy nó là mới. Sự đổi mới cần có thời gian để lan truyền thông qua hệ thống xã hội. Rogers định nghĩ quá trình lan truyền là "sự phổ biến một ý tưởng mới từ nguồn sáng chế hay sáng tạo ra nó đến những người sử dụng cuối cùng hay những người chấp nhận"28. Mặt khác, quá trình chấp nhận tập trung vào "quá trình tinh thần thông qua đó một cá thể đi từ chỗ nghe thấy lần đầu tiên về sự đổi mới đến sự chấp nhận cuối cùng". sự chấp nhận là quyết định của một cá thể trở thành người sử dụng thường xuyên một sản phẩm.

 

Những giai đoạn của quá trình chấp nhận

 

Kết quả quan sát những người chấp nhận sản phẩm mới cho thấy họ đã trải qua năm giai đoạn sau:

 

+ Biết đến: Người tiêu dùng biết đến sự đổi mới, nhưng còn thiếu những thông tin về nó.

 

+ Quan tâm: Người tiêu dùng bị kích thích để tìm kiếm thông tin về sự đổi mới.

 

+ Đánh giá: Người tiêu dùng xem xét có nên dùng thứ sản phẩm mới đó không.

 

+ Dùng thử: người tiêu dùng dùng thử sản phẩm mới để đánh giá giá trị của nó kỹ hơn.

 

+ Chấp nhận: Người tiêu dùng quyết định sử dụng thường xuyên và hoàn toàn sản phẩm đó.

 

Quá trình tiến triển này cho thấy rằng người làm Marketing sản phẩm mới cần nhắm vào việc tạo thuận lợi để người tiêu dùng chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Một hãng sản xuất máy rửa chén đĩa xách tay, chạy điện phát hiện ra rằng nhiều người tiêu dùng bị kẹt lại ở giai đoạn quan tâm. Họ không mua là vì họ không biết chắc chắn và chi phí đầu tư lớn. Thế nhưng những người tiêu dùng này sẽ sẵn sàng dùng thử máy rửa chén đĩa chạy điện với một khoản chi phí hàng tháng nhỏ. Nhà sản xuất cần suy tính về việc đưa ra một kế hoạch cho dùng thử, sau đó được quyền chọn mua.

Các tin khác
LiveZilla Live Help

Sứ mệnh chân chính của con người là sống chứ không phải tồn tại




----------------------------------------
Truy cập 30 ngày trước : 7427
Số lượt truy cập : 891599